Thứ Tư, 17 tháng 8, 2016

Những cái nhất trong truyện Kim Dung

Sở thích nghiên cứu truyện Kim Dung nên sưu tầm những cái nhất của các truyện Kim Dung.
Tổng hợp được 50 cái nhất của truyện Kim Dung (sưu tầm từ các cuộc bình bầu trên mạng).

1. Bộ truyện hay nhất: Xạ Điêu Tam Bộ Khúc gồm Anh Hùng Xạ Điêu, Thần Điêu Hiệp Lữ, Ỷ Thiên Đồ Long Ký (nếu không tính gộp thì không thể tìm ra bộ hay nhất vì mỗi bộ có cái hay riêng, sở trường riêng, mỗi người một ý. Nhưng môt khi Kim Dung đã hợp nhất 3 siêu phẩm kinh điển trên thì Xạ Điêu Tam Bộ Khúc chính là đỉnh nhất của cả thế giới kiếm hiệp chứ không phải mỗi Kim Dung, thử hỏi còn gì đồ sộ và toàn diện hơn khi mỗi tuyệt tác trong 3 cái đó thôi mà đã thuộc top truyện hay nhất không kém gì Tiếu Ngạo Giang Hồ, Thiên Long Bát Bộ và chúng có liên kết chặt chẽ với nhau).

2. Uyên bác nhất: Hoàng Dược Sư (trên thông thiên văn, dưới tường địa lý).

3. Nữ nhân đẹp nhất: Tiểu Long Nữ.

4. Ứng biến tài nhất: Vi Tiểu Bảo.

5. Quái dị nhất: Sát Nhân Danh Y Bình Nhứt Chỉ.

6. Háo võ nhất: Cưu Ma Trí.

7. Trẻ con nhất: Chu Bá Thông.

8. Nghiện rượu nhất: Lệnh Hồ Xung.

9. Đa tình nhất: Đoàn Chính Thuần (không ai tranh được với ông này vì quá nhiều ghẹ, đi đâu cũng có).

10. Câu nói ấn tượng nhất: Con bà nó (Vi Tiểu Bảo - Lộc Đỉnh Ký).

11. Hồ đồ nhất: Đào Cốc Lục Tiên.

12. Chết lãng nhất: Tây Độc Âu Dương Phong, Bắc Cái Hồng Thất Kông.

13. Xấu xí nhất: Du Thản Chi.

14. Bộ truyện phong tình nhất: Lộc đỉnh ký.

15. Bộ truyện viết về tình yêu hay nhất: Thần điêu hiệp lữ.

16. Mối tình bi thảm nhất: Tiêu Phong và A Châu.

17. Mối tình kỳ lạ: Vi Tiểu Bảo và 7 vợ (7 em chung sống hòa thuận \m/).

18. Võ công tệ nhất: Thái Nhạc Tứ Hiệp (Uyên Ương Đao).

19. Dâm nhất: Điền Bá Quang (Vạn lý độc hành - Hái Hoa Tặc).

20. Thông minh nhất: Hoàng Dung.

21. Tiểu nhân nhất: Công Tôn Chỉ.

22. Không xuất hiện nhưng tiếng tăm nhất: Độc cô cầu bại.

23. Bộ truyện khung cảnh lớn nhất: Thiên Long Bát Bộ.

24. Bất hiếu nhất: Dương Khang.

25. Khùng nhất: Cô khùng (Cô Ngốc) - Anh Hùng Xạ Điêu.

26. Ngông cuồng nhất: Nhậm Ngã Hành.

27. Kém thông minh nhất: Thạch Phá Thiên.

28. Bộ truyện chỉnh sửa kết cục nhiều nhất: Thiên Long Bát Bộ.

29. Lãng tử nhất: Lệnh Hồ Xung.

30. Lưu manh nhất: Vi Tiều Bảo.

31. Câu hỏi khoai sắn nhất: hỡi thế gian tình là chi (ai trả lời được chết liền). :th_82:

32. Nhân vật đau khổ nhất: Địch Vân (Liên Thành Quyết).

33. Nhân vật tên xấu nhất: Cẩu Tạp Chủng.

34. Chiêu thức bị ghét nhiều nhất: Hấp Tinh đại pháp.

35. Gay nhất: Đông Phương Bất Bại.

36. Cặp đôi kinh điển nhất: Dương Quá - Tiểu Long Nữ.

37. Nghịch ngợm nhất: Kiến Ninh.

38. Nhân vật nữ đáng thương nhất: Nghi Lâm hoặc Quách Tường.

39. Dại gái nhất: Du Thản Chi.

40. Nguỵ quân tử nhất: Nhạc Bất Quần.

41. Cái chết đau lòng nhất: Tiêu Phong (thật đáng tiếc một thân anh hùng mà vùi nơi hiểm địa).

42. Nam chính háo sắc nhất: Vi Tiểu Bảo.

43. Mưu mẹo nhất: Triệu Mẫn.

44. Đánh đàn giỏi nhất: Nhậm Doanh Doanh.

45. Ngoan nhất: Song nhi.

46. Nữ nhân thanh khiết nhất: Tiểu Long Nữ (đừng hỏi tại sao mất zin mà vẫn được xếp là thanh cao nhất, đọc truyện tự hiểu).

47. Nhậu chiến nhất: Lệnh Hồ Xung (cái này nữ đừng nên nhưng nam thì cần học tập).

48. Hiền lành nhất: Tiểu Chiêu.

49. Kiếm khủng nhất: Huyền thiết trọng kiếm.

50. Đao khủng nhất: Đồ Long Đao.

Thứ Ba, 16 tháng 8, 2016

Kiều Phong - đại anh hùng bất hạnh bậc nhất phim kiếm hiệp

Dù võ công thuộc hàng nhất đại cao thủ nhưng đời tư của Kiều Phong (hay Tiêu Phong) lại khiến bao người xót xa.
Với những người yêu mến Kim Dung, hẳn ai cũng nhận ra những nhân vật chính của Kim gia như Quách Tĩnh, Trương Vô Kỵ, Dương Quá... trước khi trở thành các quán tuyệt quần hùng, họ đều nếm trải muôn vàn bất hạnh, đắng cay. Nhưng có lẽ nhân vật bất hạnh, khổ đau nhất trong truyện Kim Dung, chính là nhất đại kiêu hùng Kiều Phong.

Chuỗi đời bất hạnh của Kiều Phong bắt đầu từ trận chiến đầu tiên trên Nhạn Môn Quan khi chàng mới là đứa bé tròn 1 tuổi nằm trong nôi. Khi ấy, vì mắc mưu của Mộ Dung Bác, các đại cao thủ của võ lâm Trung Nguyên đã vây đánh cha mẹ Tiêu Phong, mẹ chàng tử nạn còn cha chàng là Tiêu Viễn Sơn sau khi báo thù đã ôm cả Tiêu Phong nhảy xuống vực. Vì thương con nên cuối cùng Tiêu Viễn Sơn đã ném chàng trở lại.

Trong đám người vây hãm Tiêu Viễn Sơn bị thương không chết, bang chủ Cái Bang và Huyền Khổ đại sư của Thiếu Lâm tự đã đem Kiều Phong về và giao cho một gia đình nông dân nuôi dưỡng. Kiều Phong được Huyền Khổ truyền thụ võ công và làm đệ tử Cái Bang. Vậy là từ lúc mới nằm trong nôi, Tiêu Phong đã mất cha mất mẹ, rồi phải nhận giặc làm thầy.

29 năm sau, Kiều Phong tròn 30 tuổi thì những biến cố bất hạnh tiếp theo bắt đầu.

Lúc này, với tài năng, đức độ của mình, Kiều Phong đang là bang chủ Cái Bang, được giang hồ ca tụng là đại anh hùng, là cao thủ số 1 võ lâm với lời truyền Bắc Kiều Phong, Nam Mộ Dung (nhà Mộ Dung Cô Tô ở Giang Nam). Nhưng đang lúc ở đỉnh cao danh vọng, trong 1 lần xuống Giang Nam, chàng lại bị mưu hại đến thân bại danh liệt, mất chức bang chủ và trở thành 1 kẻ không rõ thân thế, nguồn gốc. Cả giang hồ đã đổ tội giết cha mẹ, giết thầy, giết bằng hữu lên đầu Kiều Phong và ráo riết truy sát chàng.
A Châu và Kiều Phong

Và trong quãng đời chém giết cô khổ ấy thì Kiều Phong gặp được A Châu, người con gái Giang Nam đã mang đến ước mơ, mang đến hy vọng, mang đến tình yêu cuộc sống và tưới mát cả tâm hồn đang khô héo của chàng. Nhưng nghiệt ngã thay, cũng lại vì giang hồ hiểm ác mà Kiều Phong đã lỡ tay đánh chết A Châu, dập tắt cả ước mơ về cuộc sống tiêu dao miền tái ngoại của 2 người và chính bản thân chàng từ đó trở đi cũng sống không bằng chết.
Để hòa giải mối hận của Kiều Phong với cha mình là Đoàn Chính Thuần, A Châu giả thành cha đến gặp người yêu, nhưng lại vô tình bị chàng dùng một chiêu Kháng long hữu hối đánh thẳng vào người, cướp đi sinh mệnh.

Về sau, chàng tìm lại được cha đẻ của mình là Tiêu Viễn Sơn. Năm xưa, ông nhảy xuống vực sâu tự tử nhưng vì vướng vào cây cối nên không chết. Nhưng thật trớ trêu thay, lúc Kiều Phong tìm lại được cha thì cũng là lúc Tiêu Viễn Sơn quy y cửa Phật, bỏ mặc con trai quỳ gối 7 ngày 7 đêm cũng không ra gặp mặt.

Cuối cùng, trong trận chiến thứ 2 tại Nhạn Môn Quan, vì để tránh họa binh đao cho bá tánh 2 nước Tống – Liêu, Kiều Phong đã bị vua Liêu là Gia Luật Hồng Cơ hạ chỉ cấm trở về đại mạc, nơi chôn rau cắt rốn của chàng. Lúc này, Kiều Phong đã trở thành 1 kẻ vô thân vô thích, không nhà không cửa, có quê nhưng chẳng có đường về. Còn con tim chàng thì đã chết cùng nàng A Châu thương yêu.

Kiều Phong đã tự vẫn ngay tại Nhạc Môn Quan, tại chính nơi mà 30 năm trước, chàng từ cái chết tìm về sự sống và đến giờ lại từ sự sống bay về với cõi chết. Thân thể Kiều Phong lại gieo mình xuống vực thẳm một lần nữa, kết thúc 30 năm oanh liệt nhưng đầy đau khổ và cũng là khép lại kiệt tác kinh điển Thiên Long Bát Bộ của Kim gia
-st-

Chủ Nhật, 14 tháng 8, 2016

Những cặp đôi ngang trái trong Thiên long bát bộ

Những chuyện tình bi đát và ngang trái nhất trong "Thiên long bát bộ" không phải người hâm mộ nào cũng biết rõ tường tận.
Chuyện tình Kiều Phong, A Châu
Thiên long bát bộ không chỉ được biết đến bởi sự đa dạng của các môn phái võ công, những trận đánh "long trời lở đất" mà cuộc tình của các cặp đôi thanh mai trúc mã cũng khiến người hâm mộ nhớ mãi không quên.
Ngoài những cuộc tình đẹp của Kiều Phong - A Châu, Đoàn Dự - Vương Ngữ Yên, Hư Trúc - Tây Hạ công chúa,có lẽ ít người biết đến tình yêu của các nhân vật khác. Đó là những mối tình đơn phương, tình ngang trái hay tình thù hận... đã điểm xuyết cho đủ các khía cạnh của chữ "Tình" trong tác phẩm của Kim Dung.
Vương Ngữ Yên và Mộ Dung Phục
Đoàn Dự luôn tôn thờ Vương Ngữ Yên như một nàng tiên vô cùng tinh khiết, cao vời. Trong khi Thần tiên tỷ tỷ lại dành tình cảm sâu sắc và chung tình cho anh họ - Mộ Dung Phục. Nàng ngày đêm dốc sức rèn luyện võ công vì biểu ca, thuộc làu mọi kinh sách bí quyết võ công trong thiên hạ với hy vọng giúp Mộ Dung Phục hoàn thiện kỹ năng của mình.
Mộ Dung Phục và Vương Ngữ Yên trong phiên bản Thiên Long bát bộ 1997 của Lý Nhược Đồng và Trương Quốc Cường.
Vương Ngữ Yên (Trần Ngọc Liên) và biểu ca Mộ Dung Phục (Thạch Tu) trong Thiên long bát bộ 1983.
Đổi lại là sự lạnh lùng của Mộ Dung Phục dành cho Vương Ngữ Yên, bởi ngay cả khi nàng có ý định tự tử, chàng vẫn tỏ ra thờ ơ như không hề hay biết. Chỉ đến khi có sự kiện kén tuyển phò mã Tây Hạ, Vương Ngữ Yên mới sực tỉnh ngộ.
Ngoài ra, lúc Đoàn Dự bị Mộ Dung Phục đẩy xuống giếng sâu, Vương Ngữ Yên càng thêm thấm thía và nhận ra rằng, biểu ca chưa bao giờ yêu nàng. Chính vì vậy, Vương Ngữ Yên đã quyết gieo mình xuống giếng tự sát cùng công tử Đại Lý Đoàn Dự.
Một người mang sứ mệnh phục quốc như Mộ Dung Phục, rút cục có tình cảm với Thần tiên tỷ tỷ hay không? Điều này từng dấy lên không biết bao cuộc tranh luận của người hâm mộ.
Mộ Dung Phục muốn gần gũi Vương Ngữ Yên chỉ với ý đồ lùng thám cho được 7 trong 8 cuốn Tiểu Vô Tướng Công mà nàng từng ăn cắp được ở Lang Hoàn Ngọc Động tại Mạn Đà Sơn Trang. Thế nhưng, từ những ngày cả hai gần gũi bên nhau có thể nhận thấy, chàng luôn sốt sắng và quan tâm đến sự an nguy của Vương Ngữ Yên.
Một chi tiết khác có thể chứng minh Mộ Dung Phục không phải hoàn toàn lạnh lùng với Thần tiên tỷ tỷ là lần hắn giả mạo võ sĩ Tây Hạ bên Thái Hồ. Khi gặp Đoàn Dự và Vương Ngữ Yên cùng chạy trốn, Mộ với bề ngoài giả danh đã ôm trầm lấy Vương Ngữ Yên. Vì quá ghen tuông nên hắn đã ra tay ẩu đả với Đoàn Dự.
Tình cảm gần gũi và khoảnh khắc đẹp của Thần tiên tỷ tỷ (Lưu Diệc Phi) và Mộ Dung Phục (Tu Khánh) phiên bản 2003.
Tình cảm táo bạo giữa Vương Ngữ Yên (Trương Mông) và Mộ Dung Phục (Tống Phong Nham) trong phiên bản Tân thiên long bát bộ 2013.
Cách biệt và chua xót ngần ấy năm, trong lòng luôn chất chứa sự tủi hờn nơi Tây Vực, khiến Mộ Dung Phục khôn nguôi nhớ đến cô em họ. Hắn từng quở trách nàng, còn hỏi trái tim nàng rút cục dành cho ai?
Khi công chúa Tây Hạ hỏi Mộ Dung Phục ba câu, hắn từng cảm thán màn trả lời rằng: "Có người đem lòng yêu tôi, nhưng không có người yêu tôi hết lòng". Đó có thể coi như một sự luyến tiếc và xót xa mà Mộ Dung Phục luôn giấu kín trong lòng, nhưng người hâm mộ vẫn nhận thấy ở hắn một thứ tình yêu sâu kín dành cho Vương Ngữ Yên.
Về phía Vương Ngữ Yên và Đoàn Dự, sau khi sống sót và thổ lộ tình yêu của cả hai dành cho nhau, cặp đôi đã cùng rời khỏi giếng một cách an toàn. Lúc này, Mộ Dung Phục mới nhớ đến tháng ngày bên Vương Ngữ Yên.
Từng đợt sóng lòng trong hắn cứ dâng lên, vỗ dồn dập không nguôi về một thời được sát cánh cùng Thần tiên tỷ tỷ. Dù khoảnh khắc hồi tưởng chỉ diễn ra trong phút chốc, cũng đủ làm lộ rõ tấm chân tình Mộ Dung Phục đang hướng về Vương Ngữ Yên. Từ đó cho thấy, Mộ Dung Phục yêu mến và quan tâm tới Thần tiên tỷ tỷ đến nhường nào.
Tuy nhiên, tinh thần và ý chí phục quốc trong hắn ngày một mạnh mẽ hơn, đã lấn át và cướp mất tình cảm thuần khiết ban đầu trong con người Mộ Dung Phục, để rồi hắn chỉ biết điên cuồng lao vào giấc mộng phục quốc.
A Bích và Mộ Dung Phục
A Bích là một trong hai hầu gái của Mộ Dung Phục, sống ở Cầm Vận Tiểu Trúc, kế nghiệp Cầm Tiên Kha Quảng Lăng. Nàng có giọng nói mềm mại, tướng mạo diễm lệ, thích mặc màu xanh và giỏi đàn hát.
A Bích qua tạo hình của Vương Y phiên bản 2003.
Chuyện tình cảm A Bích (Hoa Kiều) và Mộ Dung Phục (Tống Nham Phong) vẫn gây nhiều tranh cãi đối với người hâm mộ.
Trong Thiên long bát bộ, những chi tiết khắc họa về nhân vật A Bích không nhiều, đặc biệt tình tiết nói về chuyện tình giữa A Bích với Mộ Dung Phục lại càng hiếm hơn.
Ví dụ một đoạn trong nguyên tác có đoạn Chung Linh hỏi Đoàn Dự: "Ca ca, ca có nhớ Vương cô nương chứ?". Đoàn Dự trả lời: "Một chút chứ không phải hoàn toàn!". Những fan hâm mộ của tiểu thuyết này đều thừa hiểu, trong lòng Đoàn Dự nghĩ gì, ngoài Vương Ngữ Yên còn có người đẹp A Bích ở Thái Hồ là biết rõ nhất.
A Bích xuất hiện không nhiều, cũng không có gia thế lẫn người ra sinh vào tử như A Châu. Tuy nhiên, cái kết của A Bích lại trở thành khoảnh khắc đẹp nhất của Thiên long bát bộ:
"A Bích mặc bộ áo màu xanh nhạt, cô cầm chiếc bánh đường từ trong giỏ chia cho bọn trẻ và khen đứa nào cũng ngoan, rồi hứa ngày mai lại đến và mang bánh đường cho chúng ăn. Giọng nàng nức nở, từng giọt lệ thánh thót xuống chiếc giỏ".
Đoạn miêu tả trên thực sự khiến nhiều độc giả cũng như khán giả phiên bản Thiên long bát bộ 1997 đều ấn tượng và nhớ mãi. Ngay đến tác giả Kim Dung cũng từng thừa nhận, hai nhân vật nữ ông yêu mến nhất trong số các tác phẩm của mình là Tiểu Chiêu và A Bích.
A Châu và Mộ Dung Phục
Nếu để Mộ Dung Phục và A Châu yêu nhau, chắc chắn sẽ có rất nhiều người thổn thức. Trong nguyên tác, hai nhân vật này vốn không hề có chút tình cảm nam nữ nào thực sự đáng chú ý. Thế nhưng, khi phân tích sâu mới nhận thấy sợi dây tình cảm vô hình được Kim Dung chủ ý vạch ra.
A Châu vốn là một trong hai nữ a hoàn của Mộ Dung Phục, bên cạnh A Bích. Nhưng, việc A Châu có thầm thương trộm nhớ Mộ Dung Phục hay không vẫn luôn dấy lên những tranh luận khá sôi nổi của người hâm mộ. Trước khi gặp Kiều Phong, trong suy nghĩ của nàng luôn thề trung thành phục vụ Mộ Dung Phục công tử.
Mộ Dung Phục (Thạch Tu) khi còn ở cạnh bên a hoàn A Châu (Huỳnh Hạnh Tú).
A Châu thông minh và nhạy cảm cũng thừa hiểu, người chị em của nàng là A Bích đã yêu thầm Mộ Dung Phục. Không nên coi A Châu là một a hoàn đơn thuần giống như A Bích, bởi trong mắt Mộ Dung Phục, nàng không khác nào một người đại diện cho trong nhà họ Mộ.
Đặc biệt những khi công tử đi vắng, nàng thường đứng ra có nhiệm vụ tiếp khách. Thậm chí, khi A Bích bị Bao Bất Đồng đùa cợt, A Châu không ngần ngại tới giải vây, trách móc Bao Bất Đồng. Hay lúc trong rừng hạnh, giữa đám anh hào giang hồ, chỉ có miệng lưỡi mềm dẻo của A Châu mới dám lên tiếng.
Trong buổi đầu gặp gỡ Kiều Phong, trong tim A Châu đã có sự so sánh giữa Mộ Dung Phục và bang chủ Cái bang. Ngoài ra, trong lần cải trang thành một nhà sư Thiếu Lâm, A Châu đã lén ăn cắp võ công Dịch Cân Kinh của phái này cho Mộ Dung Phục. Hành động này đã thể hiện, những gì nàng nguyện làm tất cả vì công tử.
Có người cho rằng, A Châu và A Bích giống như những nàng vợ lẽ trong Hồng Lâu Mộng, được đối xử như những Tập Nhân, Tình Văn chốn Hồng Lâu gác tía. Thế nhưng, những chi tiết nhỏ trong phim đã đưa A Châu trở thành nhân vật có tình cảm sâu đậm và gắn bó sinh tử với nhân vật nam chính Kiều Phong. Mặc dù vậy cũng không thể loại bó yếu tố tình cảm còn mơ hồ mà rất có thể A Châu đã từng dành cho công tử Mộ Dung Phục của nàng trước đây.
St.http://www.baomoi.com/

Thứ Bảy, 13 tháng 8, 2016

Dương Quá và mối tình son sắt với Tiểu Long Nữ

Vì sao từ Trung Quốc, Hong Kong, Đài Loan, Singapore, Nhật Bản… cho đến Việt Nam đều bình chọn mối tình đẹp nhất trong tiểu thuyết của Kim Dung chính là mối tình của Dương Quá và Tiểu Long Nữ? Chẳng lẽ tình yêu của Quách Tĩnh với Hoàng Dung không đẹp sao? Hay tình yêu mà Lệnh Hồ Xung dành cho Nhậm Doanh Doanh là chưa đủ, vả chăng trong tim của Trương Vô Kỵ vẫn còn có bóng hình nàng Chu?… Hay những mối tình đơn phương là không xứng đáng?
Không phải thế! Tình yêu của họ đều xuất phát từ sự ngưỡng mộ, chia sẽ và đồng cảm, luôn tin tưởng tôn trọng và thuỷ chung, luôn bảo vệ tình yêu trước những rào cản tác động bên ngoài, và tất cả đều vượt qua những chướng ngại đó, ngày càng làm sâu đậm thêm tình cảm đôi bên dành cho nhau. Thế thì ở Dương Quá – Tiểu Long Nữ còn có gì khác hơn mà ai ai cũng ưu ái lựa chọn? Theo tôi bởi ???
Câu trả lời đầu tiên cho dấu chấm hỏi thứ nhất, vì ở tình yêu ấy mang quá nhiều hy sinh. Cả Dương Quá – Tiểu Long Nữ đều sống vì người khác chứ không sống cho bản thân mình. Những tưởng lúc tuổi trẻ bốc đồng Dương Quá chưa hiểu chuyện nam nữ tư tình, chỉ vì chí khí nam nhi mà xả thân quyết sinh tử cùng sư phụ nhưng mãi cho đến mười sáu năm cách biệt mà tấm lòng thủy chung vẫn không hề thay đổi. Niềm đau khổ dâng lên tột cùng khi nghĩ rằng Tiểu Long Nữ đã chết 16 năm về trước để Dương Quá được sống trong bình yên. Nắm xương tàn của nàng đã vùi nơi đáy cốc ra tro từ thưở nào, mà mình thì cứ ngây ngô tận bây giờ mới hiểu. Những suy nghĩ của Dương Quá lúc bấy giờ chính là điều mà Tiểu Long Nữ lo lắng khi khắc dòng chữ “Mười sáu năm sau gặp tại đây. Phu Thê tình thâm, đừng bội tín. Tiểu Long Nữ gửi phu quân Dương lang, ngàn lời trân trọng, cầu mong gặp lại.”
Nàng mong sao nỗi tương tư sẽ dần nguôi ngoai theo ngày tháng không làm tổn thương Quá nhi của nàng như bây giờ nữa. Tiểu Long Nữ hy vọng:
16 năm sẽ vừa cho nỗi nhớ
16 năm sẽ được sự bình yên
16 năm mong tình cảm nhạt dần
16 năm không đau lòng tuyệt vọng.
Không phải vô tình mà Kim Dung hư cấu Tình hoa vào câu chuyện lại mô phỏng y như một tình yêu phải trải qua từng cung bậc thăng trầm của nó.
Đoá Tình Hoa rực rỡ hương ngào ngạt
Nhụy Tình Hoa ngọt lịm chợt đắng ngay
Gai Tình Hoa mang chất độc nát lòng,
Quả của nó không bao giờ đoán được.
Ông để hoa Tình xuất hiện ở Tuyệt Tình Cốc thật hay và nạn nhân “chết” vì độc Tình hoa tưởng kẻ vô tình hoá ra là người hữu ý nhất-Lý Mạc Sầu.
“Hỡi thế gian tình là chi vậy?
Mà đôi lòng nguyện sống chết cùng nhau
Trời Nam Đất Bắc đôi ngã cách,
Một dãy sông dài lặng lẽ thay….”*
Lời kết cho mối tình đơn phương độc đoán của Lý Mạc Sầu cũng làm tôi bồi hồi khi đọc. Vẫn còn nhớ lần đầu tiếp xúc với tác phẩm Kim Dung là bộ phim Thần Điêu Đại Hiệp do Lưu Đức Hoa và Trần Ngọc Liên vào vai Dương Quá-Tiểu Long Nữ lúc đấy tôi chưa hiểu lắm về mấy câu thơ trên, sau này có dịp đọc lại tác phẩm Thần Điêu Hiệp Lữ tôi mới cảm nhận hết ý tứ trong từng câu thơ ấy.
Những tưởng Tình hoa đã bị thiêu là hết nhưng nó vẫn dày vò trong những trái tim thổn thức yêu đương. Trong đời hẳn không chỉ một lần bạn gặp “Tình hoa”? Và vô ý bị “gai” Tình hoa “đâm” phải? khi “độc phát” bạn thấy lòng dễ chịu? Và thời gian để nguôi ngoai “vết thương” ấy có cảm nhận được như đứt từng đoạn ruột hay chăng? Nhưng Dương Quá không ăn cỏ đoạn trường để dứt tình với Tiểu Long Nữ mà ăn vì mong chờ ngày đoàn tụ cùng nàng, lòng si mê Tiểu Long Nữ không hề nguội lạnh trong 16 năm. Tiểu Long Nữ không ngờ 16 năm sau Dương Quá vẫn trọn vẹn tấm chân tình. Dương Quá đau khổ đến độ “tâm sầu bạch phát” khi chợt hiểu ra rằng “Than ôi Tiểu Long Nữ đã chết 16 năm về trước”. Tự trách móc, tự hờn dỗi, rồi bất lực khi Tiểu Long Nữ không xuất hiện để chàng được sống mười mấy năm làm trái tim Dương Quá tan nát. Tuyệt vọng chàng buông người rơi xuống Đoạn Trường Nhai.
16 năm luôn đợi chờ và hy vọng
16 năm chí khí lẫn hào hùng
16 năm mong 1 lần gặp lại
16 năm vẫn một dạ thủy chung.
“Bạn có thấy đau lòng không khi người ta mà yêu thương lại không thể cùng ta đi hết đoạn đường mà ta sẽ đi qua. Có nỗi đau nào lớn hơn nổi đau chẳng còn được nhìn thấy người mà ta yêu dấu một lần nữa trong đời. Sẽ chẳng phải là ta nữa khi không còn nàng sóng đôi! Với Dương Quá đó là mất tất cả, mọi thứ đều trở thành hư vô khi cuộc sống không mang về Tiểu Long Nữ. Tôi đã thầm cám ơn Kim Dung khi ông để nàng Long Nữ tái sinh. Đoạn kết bao giờ cũng có hậu trong tiểu thuyết của ông làm tôi hài lòng. Không như Cổ Long ông để Lý Tầm Hoan ôm mối hận tình chôn dấu tận tâm cang rồi uất ức mang xuống cửu tuyền!”**
Trả lời cho dấu chấm hỏi thứ hai là lòng khoan dung tha thứ. Chỉ có khi ta yêu người ấy hơn cả bản thân mình thì mới làm được điều này, Tiểu Long Nữ đã cảm kích biết bao khi cùng Dương Quá thành thân ở Cung Trùng Dương. Chẳng mấy ai trên đời có thể quên đi lỗi lầm của người thân mà không bao giờ khơi ngợi lại. Sự độ lượng trong tình yêu luôn mang lại nhiều điều cảm kích. Vả chăng khi chúng ta làm nên điều chi lầm lỗi cũng mong được một lần thứ tha!
Điều sau cùng là vì tình yêu ấy đẹp như một bức tranh ảo tưởng thần tiên mà con người hiện tại không bao giờ có. Có phụ nữ nào trên thế gian này ở mãi mãi tuổi thanh xuân mà không bao giờ lão hoá? Có người đàn ông nào trên thế giới này đang ở trên đỉnh cao danh vọng tức thì tìm đến cái chết khi nhận ra rằng người mình yêu đã không còn tồn tại cách đây nhiều năm? Là người Châu Á nếu gặp một phụ nữ hơn mình nhiều tuổi làm trái tim bạn đập liên hồi, bạn có dám yêu và dám cùng nàng vượt qua những thị phi thời hiện đại?
Tôi rất thích câu trả lời của Tiểu Long Nữ khi Dương Quá hỏi nàng …“nếu là Quách Phù thì cô Long sẽ chọn ai trong hai huynh đệ họ Võ”. Tiểu Long Nữ trả lời “ta chọn Quá nhi” Dương Quá tưởng Tiểu Long Nữ chưa rõ ý mình nên nhắc lại “không, ý Quá nhi là nếu cô Long là Quách Phù thì cô Long sẽ chọn ai trong hai huynh đệ họ Võ”. vẫn câu đấy nàng lặp lại “ta vẫn chọn Quá nhi”…
Một ai đó hướng bạn đi những bước đầu tiên trong cuộc sống; một ai đó xoa dịu lúc bạn vấp té bị đau; một ai đó chia sẽ những khoảng lặng trong tâm hồn lúc bạn bồn chồn; và một ai đó cùng bạn nhân đôi niềm vui khi cuộc sống ban tặng tiếng cười sảng khoái. Nếu đã có một ai đó như thế; ngay lặp tức hãy nói với ai đó rằng bạn yêu ai đó biết bao nhiêu.
Tôi chẳng phải là người xuất chúng như Dương Quá nên chẳng dám mong có được ý trung nhân thuần khiết thoát tục tựa nàng Tiểu Long Nữ thanh tao, và tôi cũng chẳng thể vì một ai đó mà từ bỏ cuộc sống này, vì tôi còn Mẹ và những người thân thuộc, nhưng tôi nguyện cùng ai đó đi hết quãng đường đời, nguyện cùng gánh những vui buồn trong cuộc sống, nguyện chia sẽ những đắng cay. Thế nhưng…
Như đã nói ở chủ đề chính “Ái tình trong tiểu thuyết Kim Dung” Thiết tha gì nữa khi đã có nàng trong vòng tay. Danh xưng trong ngũ tuyệt chẳng là gì so với 16 năm đợi chờ. Tôi là Dương Quá thì sẽ cùng nàng phiêu bạt khắp nơi. Vì giờ đây “..thiên hạ là của ai kia chứ?… Dương Quá này ngông cuồng đâu chỉ ngày hôm nay…”
“Chung Nam Sơn hậu
Hoạt Tử Nhân mộ
Thần Điêu Hiệp Lữ
Tiệt tích giang hồ.”
Có thể thấy Kim Dung hư cấu một tình yêu hoàn hảo như Dương Quá-Tiểu Long Nữ chỉ có thể tồn tại trong tưởng tượng, nhưng nó lại thỏa mãn được sự khao khát, ước ao vươn đến một tình yêu tinh khiết cao thượng nơi mỗi người, thế nên ta mới thấy tình yêu của họ là mối tình đẹp nhất!

Thứ Sáu, 12 tháng 8, 2016

Môn võ công nào mạnh nhất trong tiểu thuyết của kim dung

img
1.ảm nhiên tiêu hồn chưởng
Ảm nhiên tiêu hồn chưởng là loại chưởng pháp kỳ lạ bậc nhất do Dương Quá sáng tạo nên trong 16 năm chờ đợi Tiểu Long Nữ và cũng chỉ có mình Dương Quá sử dụng được. Muốn sử dụng môn võ tương tư sầu khổ vô cùng đau đớn tuyệt vọng. Khi tâm trạng vui vẻ hạnh phúc, vô ưu vô lo thì lộ chưởng pháp này mất đi thần hiệu.
Môn võ này được sáng tạo khi Dương Quá chỉ còn một tay nên lấy nội công làm gốc không dùng các biến hóa đa đoan để thủ thắng. Nhiều chiêu thức trong Ám nhiên tiêu hồn chưởng được bắt nguồn từ các võ công mà Dương Quá đã biết ví dụ như : Cửu Âm Chân Kinh, Nghịch Hành Kinh Mạch.
Ảm nhiên tiêu hồn chưởng có 17 chiêu thức :
Tâm Kinh Nhục Khiêu
Khởi Nhân Ưu Thiên
Vô Trung Sinh Hữu
Đà Nê Đới Thủy
Bồi Hồi Không Cốc
Lực Bất Tòng Tâm
Hành Thi Tẩu Nhục
Đảo Hành Nghịch Thi


Phế Tẩm Vong Thực
Cô Hình Chích Ảnh
Âm Hận Thôn Thanh
Lục Thần Bất Thân
Cùng Đồ Mạt Lộ
Diện Vô Nhân Sắc
Tường Nhập Phi Phi
Nghai Nhược Mộc Kê

img

2. càn khôn đại na di
Càn khôn đại na di tâm pháp (乾坤大挪移心法) là bộ võ công thượng thừa của Minh Giáo. Có thể chuyển đổi đòn tấn công của địch thủ vào người khác hay vào chính địch thủ mà mình đánh. Càn khôn đại nã di tâm pháp gồm 7 tầng, theo Kim Dung viết thì người có tư chất cao thì sẽ mất 7 năm để luyện tầng 1, còn người có tư chất thấp thì là 14 năm.
Dương Đỉnh Thiên là giáo chủ đời thứ 33 của Minh Giáo đã luyện được tầng 4 của Càn khôn đại nã di tâm pháp và dùng nó để phát quang Minh Giáo. Nhưng sau đó ông bị tẩu hỏa nhập ma rồi qua đời, Càn khôn đại nã di bị thất lạc. Minh Giáo bị chia năm xẻ bảy, rồi cuối cùng bị Lục đại phái xông lên đỉnh Quang Minh truy sát.
Trương Vô Kỵ trong một lần đuổi theo Thành Côn đã được Tiểu Chiêu dẫn đến mật thất của Minh Giáo và vô tình lọt vào căn phòng mà năm xưa Dương Đỉnh Thiên chết. Trương Vô Kỵ tìm lại được Càn khôn đại nã di nhưng chàng lại không muốn học vì chàng thấy mình không phải người của Minh Giáo. Cuối cùng, vì bất đắt dĩ, Trương Vô Kỵ đành luyện Càn khôn đại nã di, với Cửu Dương thần công Trương Vô Kỵ đã nhanh chóng luyện xong tầng thứ 6 của Càn khôn đại nã di tâm pháp và chàng dùng nó để cứu Minh Giáo thoát khỏi họa diệt vong rồi thống nhất Minh Giáo lại thành một môn phái như xưa. Sau này nhờ đoạt được Thánh hỏa lệnh nên chàng học được tầng thứ 7 của Càn khôn đại nã di tâm pháp uy trấn giang hồ.

img

3. cửu dương thần công
Cửu Dương chân kinh là pho sách võ thuật chỉ dẫn cách luyện nội công của Phật môn xuất hiện trong tiểu thuyết Ỷ thiên Đồ long ký của nhà văn Trung Quốc Kim Dung. Trong tiểu thuyết này, Kim Dung mô tả Cửu Dương chân kinh là một bộ sách luyện nội công trong bộ Kinh Lăng Già mà tác giả là Đạt Ma Sư tổ của Thiếu Lâm tự.
Cửu Dương Chân Kinh là một phần của bộ Lăng Già Kinh mà tác giả không phải là Bồ Đề Đạt Ma, tổ sư khai sáng trường phái võ lâm Thiếu Lâm Tự mà có thể do cao thủ đạo gia lánh đời nào đó. Sau khi kết thúc chín năm diện bích tham thiền, trở lại đời sống bình thường, Bồ Đề Đạt Ma đã nhận ra những hòa thượng tu hành ở Thiếu Lâm tự thường ốm
yếu và có sức khỏe kém. Và ông đã dựa vào các triết lý Phật giáo để sáng tạo ra một số bí kíp rèn luyện nội công và võ thuật, tăng cường sức khỏe cho hòa thượng cũng như những người ở Thiếu Lâm tự, trong đó có Dịch Cân Kinh..., nhưng không thể là Cửu Dương Chân Kinh Trong thực tế, chưa từng có tài liệu nào nói về sự tồn tại của Cửu Dương
Chân Kinh, nên có thể xem sự có mặt của bộ sách này mang tính chất văn học. Cho đến trước sự kiện xảy ra trong phần cuối bộ Thần Điêu Hiệp Lữ thì bộ kinh này nằm trong Tàng Kinh Các của Thiếu Lâm Tự. Có nhiều chi tiết chứng minh đây chưa chắc là võ học Thiếu lâm. Thứ nhất nó được viết bằng Hán tự, không phải tiếng Phạn. Thứ 2 là nó được chép bên cạnh kinh Lăng già, mà không phải được ghi chép tử tế như Dịch Cân Kinh: Hán được). Thứ ba là Trương Vô Kỵ sau khi luyện thành Cửu Dương chân kinh cũng nghĩ rằng đây chắc không phải võ học Thiếu lâm mà do cao thủ lánh đời nào đó đề lại vì nó có nhiều quan điểm của Đạo gia. Không ngoại trừ khả năng Hoàng Thường - tác giả Cửu Âm chân kinh vào lúc cuối đời, ẩn cư Thiếu lâm, tạo ra bộ Cửu Dương chân kinh này.
Cửu Dương chân kinh lần đầu được nhắc đến bởi Giác Viễn thiền sư, một người gác Tàng kinh các trong Thiếu Lâm tự khi truy đuổi Doãn Khắc Tây và Tiêu Tương Tử đến Hoa Sơn ở phần cuối Thần điêu hiệp lữ. Theo lời Giác Viễn, Cửu Dương chân kinh được viết bởi Đạt Ma sư tổ trong bộ Lăng Già Kinh. Doãn Khắc Tây và Tiêu Tương Tử trong khi tạm lánh ở chùa Thiếu lâm đã ăn trộm bộ sách này và đã bị Giác Viễn truy đuổi đến Hoa Sơn để đòi lại. Tuy nhiên, hai người này đã khéo léo giấu bộ sách vào bụng con vượn già
nên dù Giác Viễn được sự trợ giúp của Quách Tương và Trương Quân Bảo vẫn không thể tìm thấy và buộc phải quay về. Về sau, Giác Viễn vì lý do này bị Thiếu Lâm tự phạt phải xích chân gánh nước đổ vào giếng hàng ngày. Về phần Doãn Khắc Tây và Tiêu Tương Tử, hai người bỏ trốn đến dãy Côn Luân thì đánh nhau để tranh giành bộ kinh đến mức cả hai cùng kiệt sức mà chết. Trước khi chết, họ có lời nhờ Côn Luân tam thánh Hà Túc Đạo chuyển lời đến Giác Viễn về sách là "Sách để trong hầu" (hầu chỉ con khỉ già) nhưng do kiệt sức phát âm không thành nên Hà Túc Đạo nghe nhầm là "Sách để trong dầu" nên cả Giác Viễn lẫn Thiếu Lâm tự đều không hiểu và bộ sách đã gần như bị thất truyền.
Có nhiều người học được một phần hoặc toàn phần Cửu Dương chân kinh, nhưng chỉ có Giác Viễn và sau này là Trương Vô Kỵ học được toàn vẹn Cửu Dương chân kinh nguyên bản. Giác Viễn là một người mê đọc sách, khi gác Tàng Kinh Các của Thiếu lâm đã đọc hết các sách và vô tình đọc cả bộ Kinh Lăng Già. Vì đọc nhiều lần nên vô tình Giác Viễn đã mang trong mình nội công hùng hậu (Cửu Dương thần công) mà không hề hay biết. Khi đó, Trương Quân Bảo (sau này thành Trương Tam Phong-tổ sư phái Võ Đang) là học trò của Giác Viễn cũng vô tình luyện được một phần của Cửu Dương chân kinh và mang trong mình nội công Cửu Dương thần công. Do nhiều biến cố, trước khi Giác Viễn qua đời đã đọc lại toàn bộ Cửu Dương chân kinh, lúc đó có mặt cả Trương Quân Bảo, Quách Tương (sau này lập nên phái Nga Mi) và Vô Sắc thiền sư, mỗi người đã học một phần của bộ kinh này. Vì thế, các chiêu số, nội công của các phái Thiếu lâm, Võ Đang và Nga Mi đều có màu sắc của Cửu Dương thần công nhưng không toàn vẹn.
Hơn một trăm năm sau, Trương Vô Kỵ khi bị kẻ thù truy đuổi trên núi tuyết Côn Luân đã vô tình lạc vào thung lũng nơi con vượn mà Tiêu Tương Tử và Doãn Khắc Tây từng ở. Ở đó, Vô Kỵ đã mổ bụng cứu con vượn già (vì bộ sách bị nhét vào bụng, con vượn đã mang bệnh suốt trăm năm) và vô tình học được toàn bộ nội công Cửu Dương thần công trong bộ sách này. Vô Kỵ đã dùng nội công này đẩy toàn bộ hơi hàn độc của Huyền Minh thần chưởng đang đe dọa mạng sống của mình, đồng thời trở thành người có nội lực hùng
hậu nhất. Sau này, cùng với võ công Càn khôn đại nã di, Vô Kỵ đã trở thành cao thủ võ công tuyệt đỉnh trong tiểu thuyết Ỷ thiên Đồ long ký. Trước khi rời khỏi hẻm núi hoang này, Vô Kỵ đã chôn bộ kinh trong hẻm núi và sau đó không ai còn nghe về hành trình của bộ sách này.
Theo mô tả của Kim Dung, nếu như Cửu Âm chân kinh (thuộc về Âm tính - lạnh) là sách dạy các chiêu số võ công để thắng địch thì Cửu Dương chân kinh lại là bộ sách tu luyện nội công và bảo vệ thân thể. Khi luyện thành, trong mình người học sẽ có nội công Cửu Dương thần công mang tính Dương (nóng). Cửu Dương thần công có thể hóa giải sự tấn công của các nguồn lực khác, đồng thời phản kích lại tỉ lệ thuận với độ mạnh của lực tấn công bên ngoài. Vì thế, Trương Vô Kỵ luôn được sự bảo vệ của Cửu Dương thần công và không bị bất kỳ một nguồn nội lực hay độc tính nào xâm phạm. Ngoài Trương Vô Kỵ, Giác Viễn, Trương Quân Bảo, Quách Tương, Vô Sắc, còn có Không Kiến thần tăng của Thiếu Lâm cũng là cao thủ về Cửu Dương thần công.

img

4. cửu âm chân kinh
Cửu âm chân kinh ( (chữ Hán giản thể: 九陰真經, chính thể: 九陰真經, latin hóa: Jiu Yin Zhen Jing)) là tên gọi của một bộ sách võ công, xuất hiện trong bộ Xạ điêu tam khúc của nhà văn Trung Quốc Kim Dung.
Khái niệm Cửu âm chân kinh lần đầu xuất hiện trong bộ truyện Anh hùng xạ điêu (tiểu thuyết đầu tiên của bộ Xạ điêu tam khúc), qua lời kể của Lão Ngoan đồng Chu Bá Thông cho Quách Tĩnh nghe lý do tại sao mình bị Hoàng Dược Sư giam giữ trên Đào Hoa đảo. Theo lời kể của Lão Ngoan đồng, người viết nên Cửu âm chân kinh là Hoàng Thường mà nguyên nhân sâu xa là từ những thù oán của Hoàng Thường với giới võ lâm.
Hoàng Thường vốn là một quan lại trong triều đình dưới triều đại vua Huy Tông triều Tống, theo lệnh của hoàng đế thu thập hết sách của Đạo gia 5481 quyển viết thành bộ sách Vạn thọ Đạo tạng (theo lời Chu Bá Thông thì việc này diễn ra vào năm Chính Hòa thứ năm, vua Huy Tông). Nhờ trí thông minh và kiên trì, Hoàng Thường đã học được toàn bộ các bí kíp võ học Đạo gia và trở thành một cao thủ võ lâm. Sau đó, theo lệnh của Huy Tông hoàng đế, Hoàng Thường dẫn quân đến tiêu diệt Minh giáo và quân lính bị đại bại. Tuy nhiên, Hoàng Thường học được toàn bộ bí kíp võ công cao cường nên đánh bại hầu hết các cao thủ Minh giáo, nhưng sau đó vì đơn thương độc mã nên vẫn thất bại, kết quả là
toàn bộ gia đình của Hoàng Thường bị sát hại, chỉ một mình Hoàng Thường thoát nạn chạy lên núi ẩn náu quyết rèn luyện võ công cao cường để trả thù.
Sau một thời gian dài tu luyện và ngộ được đạo lý võ học, Hoàng Thường trở lại với ý định trả thù nhưng thời gian đã trôi quá lâu tất cả các đối thủ đều đã qua đời, thậm chí con cái đối thủ cũng đã già nữa, Hoàng Thường hết ý định trả thù, nhưng tiếc những kiến thức võ học Đạo gia mà mình học được viết thành bộ Cửu âm chân kinh gồm 2 quyển: Quyển thượng bao gồm các bí kíp rèn luyện nội công căn bản của Đạo gia, Quyển hạ gồm các chiêu thức khắc địch và bảo vệ thân thể. Sau khi Hoàng Thường qua đời, Cửu âm chân kinh lưu lạc trong nhân gian khiến giới võ lâm tranh đoạt và gây ra sự chém giết để giành lấy bí kíp này.
Trước thời kỳ xảy ra những nội dung chính của câu chuyện trong tiểu thuyết Anh hùng xạ điêu, có năm người võ công cao siêu nhất cùng đấu với nhau trên đỉnh Hoa Sơn để tranh nhau Cửu âm chân kinh gồm Đông Tà Hoàng Dược Sư, Tây Độc Âu Dương Phong, Nam Đế Đoàn Trí Hưng, Bắc Cái Hồng Thất Công, và Trung Thần Thông Vương Trùng Dương. Võ công của Vương Trùng Dương cao nhất và giành được Cửu âm chân kinh. Ông định đốt sách để tránh chuyện tàn sát trong võ lâm, nhưng lại tiếc công người xưa nên giấu quyển sách đi. Trước khi chết, ông đã giao cho Lão Ngoan đồng Chu Bá Thông là sư đệ của mình đi giấu hai quyển sách ở hai nơi nhằm tránh cho quyển sách rơi vào tay kẻ xấu.
Trên đường đi giấu sách, Lão Ngoan đồng bị vợ Hoàng Dược Sư đánh lừa, dùng trí nhớ siêu phàm đọc lại một lần nhớ hết quyển hạ. Bà về viết lại cho chồng, nhưng Hoàng Dược Sư chưa tu luyện thì bị học trò là cặp vợ chồng Mai Siêu Phong, Trần Huyền Phong lấy trộm quyển hạ trốn đi, luyện ra những võ công âm độc (ví dụ như Cửu âm bạch cốt trảo...). Hoàng Dược Sư nổi giận đánh gãy chân các học trò còn lại và đuổi ra khỏi đảo Đào Hoa. Vợ Hoàng Dược Sư lúc đó mang thai cố gắng nhớ lại viết lại sách cho chồng nên bị kiệt sức và mất sau khi sinh con. Chu Bá Thông thấy vậy đến Đào Hoa đảo đòi sách và đánh nhau với Hoàng Dược Sư, thua trận bị nhốt trong động đá.
Vô tình từ những ân oán giữa Giang nam thất quái và vợ chồng Mai Siêu Phong khiến cho Quách Tỉnh có được nội dung Cửu âm chân kinh phần quyển hạ được ghi lại trên da bụng của Trần Huyền Phong. Khi Quách Tỉnh gặp Chu Bá Thông trên Đào Hoa đảo, Chu Bá Thông đã dạy cho Quách Tĩnh thuộc lòng cả bộ Cửu âm chân kinh và cũng vô tình đó, Chu Bá Thông cũng luyện thành và trở thành một nhân vật võ công cao nhất. Một phần của Cửu âm chân kinh viết bằng tiếng Phạn được Nhất Đăng đại sư dịch lại sang Trung văn. Sau này, Quách Tĩnh trở thành một cao thủ nhờ tu luyện Cửu âm chân kinh. Cửu Âm chân kinh cũng là một lý do gây ra những bi kịch thù hận trong bộ truyện này.
Khi đến bộ Thần điêu hiệp lữ, Cửu âm chân kinh một lần nữa xuất hiện. Vương Trùng Dương trước khi chết đã ghi lại một phần nội dung Cửu âm chân kinh trong thạch động Hoạt tử nhân mà Dương Quá và Tiểu Long Nữ là hai người có duyên luyện được bí kíp này.
Cửu âm chân kinh được vợ chồng Quách Tĩnh, Hoàng Dung giấu trong kiếm Ỷ Thiên, được Chu Chỉ Nhược luyện tập. Thành tựu nhất trong truyện này có lẽ là cô gái áo vàng, người được coi là hậu duệ của Dương Quá và Tiểu Long Nữ.
Cửu âm bạch cốt trảo là một trong nhiều môn võ công được ghi lại trong Cửu âm chân kinh, bộ võ công tối thượng trong tiểu thuyết võ hiệp Anh hùng xạ điêu của nhà văn Kim Dung. Nổi danh nhất với võ công này là Mai Siêu Phong, biệt hiệu Thiết Thi, 1 trong 6 đệ tử ban đầu của Đông Tà Hoàng Dược Sư.
Cửu âm bạch cốt trảo thực chất trong Cửu âm chân kinh mà Chu Bá Thông truyền thụ cùng cửu âm chân kinh trong hang đá cho Quách Tĩnh có tên là Cửu âm Thần trảo. Khi luyện Cửu âm thần trảo thì chỉ dùng tay đánh vào vách đá để luyên tập, nhưng do Mai Siêu Phong cùng sư huynh Trần Huyền Phong ăn cắp được nửa quyển hạ Cửu âm chân kinh, sau đó tập luyện theo mà không hiểu yếu chỉ đạo gia trong khẩu quyết võ công nên khi luyện dùng tay đánh vào sọ người sống, khi luyện tập thường chất rất nhiều sọ người xung quanh nơi mình tập, từ đó tên gọi Cửu âm bạch cốt trảo được dùng cho Cửu âm thần trảo cùng sự nổi danh của Hắc phong song sát. Chu Bá Thông có giải thích: Mai Siêu
Phong không biết cách thức luyện công cho đúng, thấy quyển hạ viết: Năm ngón phát kình, không gì cứng không phá được, chụp vào đầu óc như xuyên vào đậu hũ, lại không biết câu: Chụp vào đầu óc trong kinh có ý là tấn công vào chỗ yếu hại của địch nhân, tưởng rằng phải chụp vào đầu người thật nên lúc luyện công cũng theo đó mà làm. Yếu chỉ của bộ Cửu âm chân kinh này vốn là đường lối học theo tự nhiên của Ðạo gia, xua quỷ trừ tà để trường sinh dưỡng mệnh, há lại dạy người ta luyện thành võ công hung ác tàn nhẫn như thế sao?
Ngoài Mai Siêu Phong ra,trong tiểu thuyết của Kim Dung chỉ có Dương Khang (đã bái Mai Siêu Phong là sư phụ), Chu Chỉ Nhược phái Nga Mi và truyền nhân phái cổ mộ (cô gái áo vàng trong Ỷ thiên đồ long ký) là có sử dụng võ công này.
Ngoài Cửu âm Thần trảo trong Xạ Điêu Tam bộ khúc còn xuất hiện một số chiêu thức, bí pháp sau trong Cửu âm chân kinh như: Dịch cân đoạn cốt thiên, Nghịch chuyển kinh mạch, Giải huyệt bí pháp, Quy tức đại pháp, Di hồn đại pháp, Tồi tâm chưởng, Xà hình ly phiên thuật, Thủ huy ngũ huyền, Bách xà tiên pháp,..



5. đã cẩu bổng pháp
Đả cầu bổng pháp là một trong những tuyệt chiêu trấn phái của Cái Bang (dùng côn). Song hành cùng đó là "Hàng long thập bát chưởng". Đả cẩu bổng pháp là bộ bổng pháp (côn, gậy) chỉ có bang chủ đời trước đích thân truyền thụ cho bang chủ đời sau, là một loại Côn pháp chí cao. Từ lâu côn pháp này đã nổi danh nhưng song đến đời Hồng Thất Công, bang chủ thứ 18 của Cái Bang, thì mới thật sự uy trấn giang hồ. Và đến đời Hoàng Dung - con gái của Đông Tà Hoàng Dược Sư thì được biết đến rộng rãi. Bộ chưởng pháp này dùng nhu thắng cương bao đời, nên Bang chủ Cái Bang nhờ nó mà nổi danh giang hồ những cao thủ về bộ Côn pháp này có thể kể đến như: Hồng Thất Công, Hoàng Dung, Tống
dùng nhu thắng cương bao đời, nên Bang chủ Cái Bang nhờ nó mà nổi danh giang hồ những cao thủ về bộ Côn pháp này có thể kể đến như: Hồng Thất Công, Hoàng Dung, Tống Nguyên Ân (trưởng lão đời thứ 12 của Cái Bang)... Đả Cẩu Bổng Pháp có tổng cộng 36 chiêu, mỗi chiêu có nhiều thức biến hóa khác nhau tạo thành vô số chiêu thức tinh diệu. Đả Cẩu Bổng Pháp được thi triển theo đường lối "Tứ lạng bạt thiên cân" (Bốn lạng bạt ngàn cân), võ công được áp dụng theo 8 chữ khẩu quyết: buộc, đập, trói, đâm, khều, dẫn, khoá, xoay. Nhà văn Kim Dung có nêu một số chiêu thức của Đả Cẩu Bổng Pháp:
Ngao Khẩu Đoạt Trượng (Cướp gậy từ tay địch nhân)
Áp Thiên Cẩu Bối (khẩu quyết chữ Khoá)
Bổng Đả Song Khuyển (chữ Đập)
Bổng Đả Ác Cẩu (chữ Đập)
Bát Thảo Tầm Xà (chữ Đâm)
Lục Phản Cẩu Điện (chữ Đâm)
Bát Cẩu Triều Thiên (chữ Khoá)
Thiên Hạ Vô Cẩu (chữ Xoay)

img

6. độc cô cửu kiếm
Độc cô cửu kiếm (獨孤九劍, tiếng Anh: Nine Swords of Dugu) là một bí kíp kiếm thuật tối thượng xuất hiện trong bộ tiểu thuyết kiếm hiệp Tiếu ngạo giang hồ của Kim Dung, bắt nguồn từ nhân vật không xuất hiện mang tên Độc Cô Cầu Bại và có hai nhân vật sử dụng thành thục là Phong Thanh Dương và Lệnh Hồ Xung. Độc cô cửu kiếm được coi là triết lý đặc sắc của Đạo gia đề cao việc sử dụng kiếm thuật một cách linh hoạt theo phương châm "dĩ vô chiêu thắng hữu chiêu" (không có chiêu số mà thắng chiêu số).
Độc cô cửu kiếm được tạo ra bởi Độc cô cầu bại, nhân vật chưa bao giờ xuất hiện thật sự trong các tiểu thuyết của Kim Dung, mà chỉ xuất hiện qua các huyền thoại bởi lời kể của các nhân vật khác về một cao thủ có võ công đạt mức lư hỏa thuần thanh, đặc biệt là trình độ kiếm thuật cao siêu không ai địch nổi. Ông ta tung hoành giang hồ suốt một đời mà không từng bị thất bại, không tìm được đối thủ của mình. Ông ta cô độc cho đến chết mà chỉ mong được một lần bại trận bởi đối thủ nên có tên là Độc cô cầu bại. Tuy nhiên, đôi khi cũng có thể hiểu chính những người sử dụng Độc cô cửu kiếm là những "Độc cô cầu bại". Nhân vật Độc cô Cầu bại xuất hiện qua lời kể của Phong Thanh Dương trong tiểu thuyết Tiếu ngạo giang hồ và trong tiểu thuyết Thần điêu hiệp lữ khi con thần điêu (người bạn còn sống sót của Độc cô Cầu bại) đưa Dương Quá đến mộ Độc cô cầu bại và qua đó học được triết lý kiếm thuật của Độc cô. Tuy nhiên, qua miêu tả về kiếm pháp của Dương Quá trong tiểu thuyết Thần điêu đại hiệp và kiếm pháp của Độc cô cửu kiếm trong tiểu thuyết Tiếu ngạo giang hồ, ta có thể rút ra nhận xét đây là hai môn võ công có nhiều điểm khác biệt, thậm chí theo một số nhận xét là hoàn toàn tương phản. Do vậy giả trong tiểu thuyết Tiếu ngạo giang hồ, ta có thể rút ra nhận xét đây là hai môn võ công có nhiều điểm khác biệt, thậm chí theo một số nhận xét là hoàn toàn tương phản. Do vậy giả thuyết cho rằng Độc Cô Cầu Bại vẫn còn có truyền nhân khác được ủng hộ hơn cả.
Theo lời của Phong Thanh Dương, Độc cô cửu kiếm có 9 nguyên lý chính:

Tổng quát thức: Là các quy luật chung, các quy tắc biến hóa trong kiếm thuật: di chuyển, quan sát, tấn công... Các biến hóa trong tổng quát thức dựa trên các quy luật biến hóa của bát quái trong Kinh Dịch với 360 cách biến hóa.
Phá kiếm thức: Là các quy tắc phá kiếm thuật.
Phá đao thức: Các quy tắc tấn công đối thủ dùng đao.
Phá thương thức: Quy tắc tấn công các đối thủ sử dụng thương, giáo, kích, gậy...
Phá tiên thức: Hóa giải cương tiên, thiết giản, điểm huyệt...
Phá sách thức: Phá trường sách, nhuyễn tiên, tam thiết côn, trùy...
Phá chưởng thức: Hóa giải quyền, cước, chỉ, chưởng (võ công sử dụng trực tiếp tay, chân, công lực...)
Phá tiễn thức: Dùng để phá các tên, ám khí.. chẳng những dùng kiếm gạt ám khí mà có thể phản công trở lại. Một minh họa điển hình của chiêu thức này là Lệnh Hồ Xung dù mất hết nội lực vẫn sử dụng một chiêu kiếm xuất thần đâm mù mắt 15 đại cao thủ vây quanh trong miếu Dược Vương.
Phá khí thức: Dùng để hóa giải các đối thủ có nội công thượng thặng.
Trong tiểu thuyết Thần điêu hiệp lữ, Độc cô cầu bại sống cô độc trên núi hoang với con chim điêu, trước khi chết đã chôn các thanh kiếm của mình trong đá với ba triết lý:
Lúc trai trẻ lòng đầy nhiệt huyết mà thiếu sự chín chắn thì sử dụng tử vi kiếm là thanh bảo kiếm sắc, nhẹ và linh hoạt.
Khi đạt độ chín của suy nghĩ và sức lực, sử dụng thanh kiếm sắt nặng nề mà không sắc bén.
Khi bắt đầu về già, suy nghĩ và kiếm thuật đạt trình độ cao, vũ khí chỉ còn là thanh kiếm gỗ và đạt mức thượng thừa thì không kiếm mà thắng đối thủ, bất cứ thứ gì cũng là kiếm.
Trong tiểu thuyết Tiếu ngạo giang hồ, không ai rõ Phong Thanh Dương học Độc cô cửu kiếm qua người nào, chỉ biết ông ta là một truyền nhân của triết lý Độc cô cầu bại với kiếm thuật Độc cô cửu kiếm thần kỳ tung hoành trên giang hồ khi trai trẻ. Đồng thời, Phong Thanh Dương là người phát triển lý luận của Độc cô cửu kiếm đến trình độ tối thượng: "Chiêu số là phần tĩnh, người phát chiêu mới là động. Chiêu số tĩnh phá giải kỳ tuyệt đến đâu mà khi gặp chiêu số động liền chịu bó tay, vì vậy người học võ luôn cần nghĩ đến chữ động.... Luyện võ và sử chiêu linh động mới chỉ là bước đầu, luyện đến trình độ ra tay không còn chiêu thức mới tiến vào trình độ tuyệt luân. Theo người thì những chiêu luyện tới động.... Luyện võ và sử chiêu linh động mới chỉ là bước đầu, luyện đến trình độ ra tay không còn chiêu thức mới tiến vào trình độ tuyệt luân. Theo người thì những chiêu luyện tới chỗ tối cao là không tài nào phá giải được. Ý nghĩ đó chỉ đúng có một điểm là chiêu thức dù có cao đến đâu mà để đối phương tìm thấy đường lối là có thể nhận ra kẽ hở phá mình ngay. Còn như đã không có chiêu thức thì địch nhân còn phá vào đâu?". Theo Phong Thanh Dương, kiếm thuật thượng thừa đòi hỏi người sử dụng kiếm sử dụng chiêu thức biến hóa liên tục như nước chảy mây trôi, tùy theo sự thay đổi của đối thủ mà điều chỉnh lại chiêu thức của mình, lấy sự tấn công làm phòng thủ.
Phong Thanh Dương và Lệnh Hồ Xung đã phát huy năng lực của Độc cô cửu kiếm và đã trở thành những cao thủ bất bại trên giang hồ. Theo lý luận của Phong Thanh Dương, Độc cô cửu kiếm tối kị tính học thuộc mà đòi hỏi một chữ Ngộ và khi đó thì dù có quên thì lại càng phát huy khả năng phong phú của kiếm thuật. Và bản thân Phong Thanh Dương cũng đã trở thành một Độc cô cầu bại khi cuối đời ẩn cư một mình trên đỉnh Ngọc Nữ phong hoang vắng trên núi Hoa Sơn và mong chờ được thất bại dưới tay một đối thủ chân chính.
Với những lý luận này, Độc cô cửu kiếm đã thoát ra khỏi sự hạn hẹp của kiếm thuật, mà đã trở thành triết lý sống của Phong Thanh Dương cũng như Lệnh Hồ Xung, và trở thành một triết lý đặc sắc của Tiếu ngạo giang hồ. Triết lý này đề cao sự tự do, sống và hành động linh hoạt phù hợp với các quy luật tự nhiên, phát huy sự sáng tạo và hạn chế sự dập khuôn máy móc.
img

7. hàng long thập bát chưởng
Hàng long thập bát chưởng (Mười tám thế chưởng pháp hàng phục được rồng) là tên một loại tuyệt kỷ võ cong xuất hiện trong truyện kiếm hiệp của Kim Dung, nguyên có tên là Giáng long thập bát chưởng (降龍十八掌) và sau đã được thay đổi. Được mô tả trong loạt truyện kiếm hiệp gồm Thiên Long bát bộ và Xạ điêu tam bộ khúc (Anh hùng xạ điêu, Thần điêu hiệp lữ và Ỷ thiên Đồ long ký), Hàng long thập bát chưởng là 1 trong 2 tuyệt kỷ của Cái Bang bên cạnh "Đả cẩu bổng pháp".
Đả cẩu bổng pháp là bộ bổng pháp (côn, gậy) chỉ có bang chủ đời trước đích thân truyền thụ cho bang chủ đời sau, còn Hàng long thập bát chưởng thì chỉ có những đệ tử cái bang từ hàng 9 túi trở lên mới được truyền dạy và mỗi người chỉ được dạy một vài chiêu chứ không được học hết cả pho chưởng pháp, ngoại trừ các đồ đệ truyền nhân của bang chủ.
Theo truyện Anh hùng xạ điêu, Hàng long thập bát chưởng đã vang danh thiên hạ từ lâu, song đến đời Hồng Thất Công, bang chủ thứ 18 của Cái Bang, thì mới thật sự uy trấn giang hồ, và đến đời Quách Tĩnh (đồ đệ của Hồng Thất Công) thì được biết đến rộng rãi nhất.
Theo truyện Thiên long bát bộ, một nhân vật nữa làm cho Hàng long thập bát chưởng đi vào huyền thoại là Tiêu Phong, một nhân tài kiệt xuất của Cái Bang. Với tấm lòng hào hiệp, chính nghĩa, không chịu khuất phục cường địch, Tiêu Phong cùng với Hàng long thập bát chưởng là nỗi khiếp sợ của tà môn ngoại đạo. Trong bản chỉnh sửa mới nhất của Thiên Long Bát Bộ, thì Hàng long thập bát chưởng mới đầu có 28 chiêu là Hàng Long nhị thập bát chưởng. Về sau Tiêu Phong và Hư Trúc nhận thấy vẫn còn thiếu uy lực, lại có nhiều chiêu lập lại nên đã bổ sung, sửa chữa, rút gọn lại, tạo thành Hàng long thập bát chưởng, đồng thời khiến uy lực của bộ chưởng pháp tăng thêm. Cũng trong bản sửa đổi
này thì Tiêu Phong còn ép Hư Trúc phải học Hàng long thập bát chưởng và Đả Cẩu Bổng với mục đích sau này khi Cái Bang tìm được bang chủ mới thì Hư Trúc sẽ truyền lại võ công cho người đó.
Theo Kim Dung, bộ chưởng pháp này là võ công chí cương của thiên hạ, bao đời Bang chủ Cái Bang nhờ nó mà thành danh giang hồ, uy lực tùy theo người sử dụng. Những cao thủ về môn chưởng pháp này có thể kể là Tiêu Phong, Hồng Thất Công, Quách Tĩnh. Gia Luật Tề cũng biết tất cả các chiêu nhưng không thể phát huy uy lực được như Quách Tĩnh và Hồng Thất Công. Về sau Hàng Long thập bát chưởng chỉ còn truyền lại được 12 chiêu như bang chủ Sử Hoả Long (Ỷ Thiên Đồ Long Ký) luyện nhưng không ai có được thành tựu cao, vật đổi sao dời, Hàng long thập bát chưởng cũng theo đó mà thất truyền cùng với sự suy vi của Cái Bang.
Chiêu thức của bộ chưởng pháp này bao gồm:
Phi long tại thiên 飛 龍在天 hào Cửu ngũ của quẻ Kiền, có nghĩa: "rồng bay lên trời". Khí dương đã phát huy rực rỡ, hoặc con người đã khai mở được bản tâm để phát huy diệu dụng.
Kiến long tại điền 見龍在田 lời hào Cửu nhị của quẻ Kiền, có nghĩa là: "con rồng đã hiện ra trên mặt ruộng". Lúc này khí dương bắt đầu được khai mở.
bamboo_keo: 3 Hồng Tiệm vu lực 鴻漸於陸 lời hào Cửu tam quẻ Tiệm, có nghĩa "con chim hồng dần bay đến đậu trên gò đất". Quẻ Tiện còn có tên là Phong sơn tiệm, do được tạo thành bởi quẻ Cấn (là núi) ở dưới và quẻ Tốn (là gió) ở trên. Ý nghĩa tượng trưng của Hồng tiệm vu lục là hào Cửu tam có vị trí trên cùng của quẻ Cấn, là hào dương xử ở ngôi dương, cương kiện năng tiến, do đó mới có tượng "con chim hồng dần bay lên đậu trên gò đất".
4Tiềm long vật dụng 潛龍勿用 lời hào Sơ cửu của quẻ Kiền, có nghĩa là: "như con rồng còn đang ẩn náu; không nên dùng". Khi khí dương còn đang tiềm tàng, hoặc bản thể của tâm chưa được phát lột thì không nên hành động.
Kháng long hữu hối 亢龍有悔 lời hào Thượng cửu của quẻ Kiền, có nghĩa: "Cản rồng ắt sẽ hối hận". Hào dương ở ngôi cao nhất của quẻ thuần dương, như để tâm chìm đắm vào chỗ lưu đãng, hư huyền xa rời mất cõi nhân sinh, ắt sẽ hối hận.Dùng Kháng long hữu hối phải có phát có thu, lực đánh ra 10 phần, lưu lại 20 phần, có phát có thu

5 Kháng long hữu hối 亢龍有悔 lời hào Thượng cửu của quẻ Kiền, có nghĩa: "Cản rồng ắt sẽ hối hận". Hào dương ở ngôi cao nhất của quẻ thuần dương, như để tâm chìm đắm vào chỗ lưu đãng, hư huyền xa rời mất cõi nhân sinh, ắt sẽ hối hận.Dùng Kháng long hữu hối phải có phát có thu, lực đánh ra 10 phần, lưu lại 20 phần, có phát có thu
Lợi thiệp đại xuyên 利 涉大川 có nghĩa: "có lợi trong việc lội qua sông lớn", đây là lời thường dùng trong các quái từ, hào từ của Kinh Dịch. "Đại xuyên" là sông lớn, thường được dùng để ví với sự gian nan hiểm trở.
7 Đột như kỳ lai 突如其來 lời hào Cửu tứ quẻ Ly, có nghĩa: "thình lình ập tới". Trong hào Cửu tam thì sự đe dọa đã bắt đầu hiện ra dưới hình thức ngọn cầu vồng lấn át ánh nắng chiều, và đến hào Cửu tứ thì đột ngột chuyển thành hiện thực.
Chấn kinh bách lý 震驚百里 lời quái từ và lời thoán truyện của quẻ Chấn, có nghĩa: "tiếng sấm động vang xa hàng trăm dặm".
Hoặc dược ư uyên 或躍於淵 hào Cửu tứ của quẻ Kiền, có nghĩa: "hoặc nhảy vào vực thẳm". Đây là bước rẽ quyết định, con người từ bỏ thế giới rạch ròi của lý trí để đi vào thế giới huyền vi của tâm thức.
10 Song Long Xuất Thủy 雙龍取水 Chúng tôi chưa tra cứu được xuất xứ, có lẽ tác giả chỉ thuận tay dùng các thành ngữ quen thuộc trong kho tàng văn học Trung Quốc mà đặt tên, theo kiểu các chiêu "Giao long hỷ thủy", "Lưỡng long tranh châu"... thường gặp các tiểu thuyết võ hiệp chứ không phải là câu được chọn ra từ Kinh Dịch.
Dực Long tại uyên 魚躍於淵
Thời thừa lục long 時乘六龍
Bái Nhiên Hữu Vũ 密雲不雨 Thanh phong từ lai, bái nhiên hữu vũ14 Tổn tắc hữu phu 損則有孚
Long chiến vu dã 龍戰於野 lời hào Thượng lục của quẻ Khôn có nghĩa: "rồng đánh nhau nơi hoang dã". Âm đã đến lúc cực thịnh nên tranh nhau với Dương.
Lữ sương băng chí 履霜冰絰 Sơn vũ dục lai, lữ sương băng chí, tên đầy đủ là "lữ sương, kiên băng chí", lời hào Sơ lục quẻ Khôn, có nghĩa: "dẫm trên sương, thì biết băng dày sắp đang tới". Đây là tượng của khí âm mới sinh.
Đê dương xúc phiên 羝羊觸藩18 Thần long bãi vĩ 神龍擺尾 Nguyên trong Kinh Dịch không có câu này, mà chỉ có câu "Lý hổ vĩ, điệt nhân, hung" của hào Lục tam quẻ Lý, có nghĩa "đi sau cọp, đạp đuôi cọp, bị nó quay lại cắn, nguy hiểm". Kim Dung giải thích tên chiêu này được lấy từ câu trên, để tả khí thế mạnh mẽ và hung dữ của chiêu thức. Người đời sau thấy chữ "hổ" không hợp trong môn chưởng pháp "hàng long" nên đổi thành "Thần long bãi vĩ"
img

8.Lạc Anh thần kiếm chưởng
Lạc Anh kiếm pháp là một bộ kiếm pháp của một môn phái mà trước kia Đông Tà Hoàng Dược Sư theo học. Đông Tà trước khi lấy mẹ của Hoàng Dung đã từng có một người yêu đó là con gái của sư phụ mình,do có mâu thuẫn với sư phụ của mình,nên sư phụ ông không gã con gái mình cho Đông Tà,vì quá buồn nên cô con gái của sư phụ Đông Tà đã tự sát, Đông Tà trong lúc giận dữ đã xóa sổ môn phái mà mình đã theo học, và lấy bộ kiếm pháp Lạc Anh làm võ thuật riêng của mình.
img

9 . Lục mạch thần kiếm
Lục mạch thần kiếm là tên một loại tuyệt kỹ võ công xuất hiện trong truyện kiếm hiệp của Kim Dung. Theo đó, đây là 1 trong 2 tuyệt kỹ của nước Đại Lý: Nhất Dương Chỉ và Lục Mạch thần kiếm. Nhất Dương Chỉ là bộ chỉ pháp được truyền dạy trong hoàng tộc Đại Lý, còn Lục Mạch thần kiếm thì chỉ có những đệ tử của Thiên Long tự mới được truyền dạy (nhiều vị vua và hoàng tộc Đại Lý khi về già tu hành tại chùa này). Theo truyện Thiên long bát bộ, nhân vật Đoàn Dự là người duy nhất có thể sử dụng trọn vẹn cả 6 mạch kiếm khí; điều kì là Đoàn Dự lại là một chàng trai hào hoa, phong nhã, vốn ghét việc luyện võ công lại có thể luyện thành thần công trong khi các cao tăng của Thiên Long Tự khổ công tập
luyện đều không thành. Bộ thần kiếm này được sánh ngang với Dịch Cân Kinh của Thiếu Lâm Tự nên nó thu hút các võ lâm cao thủ chiếm đoạt và tiêu biểu nhất là Đại Luân Minh Vương Cưu Ma Trí. Về chiêu thức, Lục mạch thần kiếm là một loại kiếm khí, là cảnh giới cao nhất của Nhất Dương Chỉ. Trong Thiên long bát bộ, Lục mach thần kiếm được tu luyện dựa trên cách vận hành khí theo nguyên lý của Nhất Dương chỉ rồi phát triển thành kiếm khí. Sáu mạch của bộ kiếm pháp này bao gồm:
1.Thiếu trạch kiếm (ngón út tay trái)
Thiếu xung kiếm (ngón út tay phải)
Quan xung kiếm (ngón áp út – ngón đeo nhẫn – tay phải)
Trung xung kiếm (ngón trỏ tay trái)
Thương dương kiếm (ngón trỏ tay phải)
Thiếu thương kiếm (ngón cái tay trái)


10.mãn thiên hoa vũ
Mạn Thiên Hoa Vũ (Hoa rãi đầy trời) là một chiêu thức võ công tập trung sức mạnh và tinh thần phóng ra hàng loạt ngân châm để tiêu diệt địch thủ, đây là một chiêu thức ám sát được các sát thủ trong võ lâm rất đắc ý, chiêu thức không những hiểm độc mà còn có khả năng sát thương nhiều đối thủ. Một chiêu thức khác có sức sát thương cao hơn Mạn Thiên Hoa Vũ là chiêu thức Bão Vũ phi Hoa Châm. Chiêu thức này được nhắc nhiều trong các tiểu thuyết kiếm hiệp và được tái hiện qua nhiều bộ phim về chủ đề võ hiệp. Trong Anh Hùng Xạ Điêu, Hồng Thất Công đã dạy Mạn Thiên Hoa Vũ cho Hoàng Dung để chống lại bầy rắn độc của Âu Dương Phong


11. nhất dương chỉ
Nhất Dương chỉ do Thái Tổ Thần Thánh Văn Vũ Hoàng Đế Đoàn Tư Bình, Vua đầu tiên của vương quốc Đại Lý sáng tạo ra cùng với Lục Mạch Thần kiếm.[cần dẫn nguồn] Đây được xem như là 2 võ công tuyệt ký của Đại Lý Đoàn Gia.[cần dẫn nguồn] Nhất Dương Chỉ là bộ chỉ pháp được truyền dạy trong hoàng tộc Đại Lý, còn Lục Mạch thần kiếm thì chỉ có những đệ tử của Thiên Long tự mới được truyền dạy (nhiều vị vua và hoàng tộc Đại Lý khi về già tu hành tại chùa này).
Nhất Dương Chỉ xuất hiện trong truyện Thiên Long Bát Bộ và Anh Hùng Xạ Điêu của Kim Dung. Trong Thiên Long Bát Bộ, có 3 người sử dụng thành thạo bộ chỉ pháp này là Trấn Nam Vương Đoàn Chính Thuần, Bảo Định Đế Đoàn Chính Minh và Thiên Hạ Đệ Nhất Ác Nhân cũng là thế tử nước Đại Lý( anh họ Đoàn Chính Minh) Doàn Diên Khánh. Trong Anh Hùng Xạ Điêu, Đoàn Trí Hưng là người đã sử dụng Nhất Dương Chỉ để cứu sống Hoàng Dung sau khi nàng bị bang chủ Bang Thiết Chưởng là Cừu Thiên Nhận đánh trúng.
nhất Dương Chỉ là chiêu thức dùng ngón tay để đánh. Người sử dụng Nhất Dương Chỉ dồn nội lực vào ngón tay trỏ rồi bắn ra.
img


12.ngọc nữ tâm kinh
Ngọc Nữ Tâm Kinh là khái niệm võ học trong tiểu thuyết Thần Điêu Hiệp Lữ của Kim Dung nằm trong bộ Xạ Điêu Tam Bộ Khúc .Ngọc Nữ Tâm Kinh là môn võ công lợi hại nhất của phái cổ mộ, theo lời kể của tiểu long nữ thì đây là môn võ công do tổ sư bà bà "Lâm Triều Anh" sáng tạo ra.Nguyên nhân là do Lâm Triều Anh này từng có một mối lương duyên với tổ sư của phái toàn chân là Vương Trùng Dương, hai người này tuy yêu nhau nhưng ko đến được với nhau vì quá nhiều mâu thuẩn, Lâm Triều Anh vừa yêu vừa hận nên đã sáng tác ra Ngọc Nữ Tâm Kinh dựa trên võ công của Toàn Chân giáo nhưng lại khắc chế hoàn toàn võ công của toàn chân giáo. Ngọc Nữ Tâm Kinh muốn luyện thành phải trải qua 3 giai đoạn: - Thứ nhất phải luyện hết võ công của Toàn chân giáo (Toàn Chân Kiếm Pháp) - Thứ hai phải luyện hết võ công của phái cổ mộ - Thứ ba mới luyện Ngọc Nữ Tâm Kinh (khi luyện tập phải có người cùng luyện và phải cởi bỏ quần áo trong lúc luyện công do lúc luyện tập khí nóng trong cơ thể phát ra nếu có quần áo khí nóng chạy ngược vào thể nội nhẹ thì tẩu hoả nhâp ma ,nặng thì chết ngay tức khắc) Lúc luyện Ngọc Nữ Tâm Kinh chia ra Âm tiến và Dương Thoái , luyện Dương Thoái thì có thể ngừng lại nghỉnhưng Âm tiến thì phải liên tục không được đức quãng nếu không tẩu hoả nhập ma chân khí chạy nguọc vào lục phủ ngũ tạng. Khi luyện thành nếu song kiếm hợp bích với Toàn Chân Kiếm

Pháp thì trở thành Ngọc Nữ Tố Tâm Kiếm Pháp uy lực tăng lên rất nhiều lần
img


13. quỳ hoa bảo điển
Quỳ Hoa bảo điển (葵花寶典 - kui jia bao dian) là bí kíp võ thuật thượng thặng trong tiểu thuyết kiếm hiệp Tiếu ngạo giang hồ của nhà văn Trung Quốc Kim Dung. Quỳ Hoa bảo điển có chung một nguồn gốc với Tịch tà kiếm pháp do hai vợ chồng tiền nhân viết ra trong quá khứ với Quỳ là tên người chồng, Hoa là tên người vợ. Giống như Tịch tà kiếm pháp nguyên lý đầu tiên để luyện là Quỳ Hoa bảo điển là "dẫn đao tự cung". Người duy nhất luyện thành công Quỳ Hoa bảo điển là Đông Phương Bất Bại.
Nguồn gốc của Quỳ Hoa bảo điển được tiết lộ theo lời kể của Phương Chấn đại sư, trụ trì Thiếu Lâm Tự khi bàn việc cùng Lệnh Hồ Xung và Xung Hư đạo trưởng phái Võ Đang trên đỉnh núi Hằng Sơn. Theo lời Phương Chấn, bộ sách Quỳ hoa bảo điển là tác phẩm của một cặp vợ chồng hợp tác mà người đàn ông có chữ Quỳ và người đàn bà có chữ Hoa, là tiền nhân của phái Hoa Sơn. Sau vì sáng tác bí lục này mà thành ra xích mích, cuối cùng cả hai vợ chồng đã đi ở ẩn, xa lánh cõi trần và pho bí lục võ công cũng chia làm hai bộ. Bộ của người chồng gọi là Càn kinh. Bộ của người vợ kêu bằng Khôn kinh. Sau một thời gian, bộ sách này vô tình truyền đến phái Nam Thiếu Lâm ở Phúc Kiến.
Cũng thời gian đó, có hai tiền nhân phái Hoa Sơn là Nguyên Mẫn Túc (sau này là ông tổ phe Khí tông) và Chu Tử Phong (sau này trở thành ông tổ phe Kiếm tông) cùng đến Nam Thiếu Lâm không biết bằng cách nào đọc lén được bộ sách rồi về Hoa Sơn tu luyện. Khi biết chuyện, trụ trì Nam Thiếu Lâm là Hồng Diệp thiền sư đã sai môn đồ của mình là Độ Nguyên thiền sư đến Hoa Sơn khuyên hai người kia không nên rèn luyện Quỳ Hoa bảo điển. Hai người kia tưởng lầm Độ Nguyên đã tinh thông bộ bảo điển nên đọc lại nhờ nhà sư kiểm chứng. Không ngờ Độ Nguyên thực ra không biết gì hết, nhưng cũng bị cuốn hút bởi bộ sách nên dụng tâm ghi nhớ, đêm về chép lại vào trong áo cà sa, sau đó hoàn tục trở thành Lâm Viễn Đồ, phát triển những kiến thức về kiếm thuật từ Quỳ Hoa bảo điển thành Tịch tà kiếm pháp của họ Lâm nổi danh giang hồ.
Nguyên Mẫn Túc và Chu Tử Phong cùng nhau tu luyện Quỳ Hoa bảo điển, nhưng mâu thuẫn về việc triết giải sách đã tranh cãi, dẫn đến việc chia rẽ phái Hoa Sơn thành hai trường phái là Khí tông coi trọng việc rèn luyện nội công(Càn kinh?) (mà hậu duệ tiêu biểu sau này là Nhạc Bất Quần) và Kiếm tông lấy việc rèn luyện kiếm chiêu làm trung tâm(Khôn kinh?) (mà hậu duệ là Phong Bất Bình, Thành Bất Ưu...). Hậu quả của việc này là hai phái tranh chấp, dẫn đến chém giết lẫn nhau, chỉ có một mình Phong Thanh Dương vì không
ham hố đấu đá nên thoát nạn. Kết cục của việc này là mười đại trưởng lão Nhật Nguyệt thần giáo kéo đến Hoa Sơn, cướp bộ sách Quỳ Hoa bảo điển về mình. Về sau, bộ sách truyền đến Đông Phương Bất Bại, là người duy nhất rèn luyện thành công bí kíp võ công này và trở thành cao thủ không ai địch nổi.

Cũng giống như Tịch tà kiếm pháp, muốn luyện Quỳ Hoa bảo điển phải vì thế Đông Phương Bất Bại cũng chung số phận với Lâm Bình Chi và Nhạc Bất Quần trở thành kẻ ái nam ái nữ. Đông Phương Bất Bại hàng ngày sống trong cung cấm như một hoàng hậu, ngồi thêu hoa, yêu một chàng trai là Dương Liên Đình, và đến chết vẫn cầu xin Nhậm Ngã Hành bảo vệ cho Dương Liên Đình. Đông Phương Bất Bại dành cả đời tu luyện Quỳ Hoa bảo điển nên có võ công phi phàm, không bị thất bại dưới Độc cô cửu kiếm của Lệnh Hồ Xung, trái lại còn làm cho bốn người là Nhậm Ngã Hành, Lệnh Hồ Xung, Nhậm Doanh Doanh và Hướng Vấn Thiên bị thương bằng kim thêu, cuối cùng chỉ chịu thất bại khi Nhậm Doanh Doanh khống chế Dương Liên Đình và khiến cho Đông Phương Bất Bại mất tập trung.
Sau khi Đông Phương Bất Bại chết, Nhậm Ngã Hành đã tiết lộ chính ông ta đã bẫy Đông Phương Bất Bại bằng bộ sách này, và đã phá hủy cuốn sách, và Quỳ Hoa bảo điển hoàn toàn mất tích trên đời
img

14. tịch tà kiếm phổ
Tịch tà kiếm pháp (辟邪劍譜 - Bi xie jian pu) là bí kíp kiếm thuật thượng thặng trong tiểu thuyết kiếm hiệp Tiếu ngạo giang hồ của nhà văn Trung Quốc Kim Dung. Tịch tà kiếm pháp có cùng nguồn gốc với Quỳ Hoa bảo điển, và là nguồn gốc của những tranh chấp trên giang hồ vào thời đại của câu chuyện Tiếu ngạo giang hồ. Tịch tà kiếm pháp là nguyên nhân trực tiếp của việc Dư Thương Hải(chưởng môn phái Thanh Thành) tàn sát cả dòng họ Lâm (mà hậu duệ duy nhất sống sót là Lâm Bình Chi).
Xuất xứ của Tịch tà kiếm pháp đến từ Quỳ Hoa bảo điển, mà chính từ những bí kíp này dẫn đến việc chia rẽ phái Hoa Sơn thành hai phái là Khí tông (trọng khí công) và Kiếm tông (trọng về kiếm chiêu). Từ bộ sách (gồm hai phần là Càn kinh và Khôn kinh) tạo ra bởi hai vợ chồng tiền nhân (tên người chồng có chữ Quỳ, tên người vợ có chữ Hoa), bí kíp này truyền đến Nam Thiếu Lâm, rồi lại được hai nhân vật của Hoa Sơn là Nguyên Mẫn Túc (ông tổ phe Khí tông) và Chu Tử Phong (ông tổ phe Kiếm tông) học lén. Khi họ trở lại Hoa
Sơn, Nam Thiếu Lâm đã phái Độ Nguyên thiền sư đến khuyên hai người không nên học bí kíp này. Khi Độ Nguyên đến Hoa Sơn, cả ba đã cùng nhau đọc và vô tình lại bị hấp dẫn bởi bộ sách này, dẫn đến việc Độ Nguyên xin ra khỏi Nam Thiếu Lâm, hoàn tục lấy vợ.
Sau khi Độ Nguyên hoàn tục đã lấy tục danh cũ là Lâm Viễn Đồ, lập ra Phúc Oai tiêu cục, đồng thời tiến hành tập luyện các bí kíp mà mình đã học được từ bộ sách Quỳ-Hoa ở Hoa Sơn. Ông chỉ phát triển các kỹ năng kiếm pháp và phát triển thành Tịch tà kiếm pháp có 72 đường kiếm, và trở thành một trong những kiếm thủ xuất chúng. Một trong những đối thủ bị Lâm Viễn Đồ đánh bại là Trương Thanh Tử, chưởng môn phái Thanh Thành, người được xem là một trong những cao thủ đệ nhất khi đó. Từ đó, Tịch tà kiếm phổ nổi
danh giang hồ khiến nhiều nhân vật giang hồ thèm khát, và chính là nguồn gốc của những tranh đoạt sau này. Hậu duệ của Lâm Viễn Đồ là gia đình Lâm Chấn Nam là những người trực tiếp chịu họa từ những tranh chấp này với việc toàn thể tiêu cục bị sát hại bởi Dư Thương Hải.
Theo lời của Lâm Bình Chi, yếu quyết đầu tiên của Tịch tà kiếm pháp là "Võ lâm xưng hùng, dẫn đao tự cung" có nghĩa là muốn luyện Tịch tà kiếm pháp thì đầu tiên phải tự thiến đi bộ phận sinh dục của mình. Bởi vì nếu không thiến, khi luyện nội công Tịch tà kiếm pháp, lửa dục sẽ thiêu đốt ruột gan thành "tẩu hỏa nhập ma" ngay lập tức khiến người ta cứng đờ ra mà chết. Hai người trực tiếp luyện Tịch tà kiếm pháp là Lâm Bình Chi và Nhạc Bất Quần đều phải làm vậy mới có thể luyện được và đã trở thành những kẻ ái nam ái
nữ. Trong quá khứ, Lâm Viễn Đồ biết điều nay nên đã lập gia đình, có vợ con rồi mới luyện tập để không triệt đi nòi giống của mình. Cuối đời, hiểu tác hại của Tịch tà kiếm pháp, Lâm Viễn Đồ đã chép Tịch tà kiếm pháp vào áo cà sa trên Phật đường của dòng họ và di chúc cho con cháu không được mở ra xem. Lời di chúc này dù Lâm Bình Chi biết (nhờ cha mẹ anh ta truyền qua Lệnh Hồ Xung) nhưng vì để trả thù cho cả nhà, Lâm Bình Chi vẫn quyết ý luyện.
Giang hồ cho rằng khi luyện Tịch tà kiếm pháp họ sẽ thành kiếm thủ vô địch, bất khả chiến bại. Nhưng trên thực tế, cả hai người luyện Tịch tà kiếm pháp thành thục là Lâm Bình Chi và Nhạc Bất Quần đều bị Lệnh Hồ Xung dùng Độc cô cửu kiếm đánh bại bằng việc tìm ra sơ hở của quá trình biến chiêu thức.
Một số chiêu thức trong Tịch tà kiếm pháp xuất hiện trong tiểu thuyết Tiếu ngạo giang hồ: Tảo đãng quần ma, Lưu tinh phi trụy, Hoa khai kiến phật, Giang thượng lộng địch, Tử khí đông lai, Quần tà tịch địch và Phô quỳ quyết mục,..